The Pattern That Connects: Gregory
Bateson and The Ecology of Mind
Tác gả: MERLYN DRIVER
Nguồn: The Journal of Wild Culture - 27/10/2019
Người dịch: BS NGUYỄN MINH TIẾN
Gregory Bateson (1904-1980) - nhà nhân học (anthropologist), nhà khoa học xã hội (social scientist), nhà ngôn ngữ học (linguist), một “visual anthropologist” (nhà nhân học chuyên nghiên cứu về văn hoá dân tộc qua các tác phẩm nghệ thuật nhìn thấy được như phim, ảnh, và sau này là media), nhà ký hiệu học (semiotician) và nhà điều khiển học (cyberneticist) – một người hoạt động thúc đẩy việc xoá mờ ranh giới giữa các chuyên ngành để chúng ta có thể thấy được tính tổng thể và tính liên kết của các sự vật. Mặc dù công trình của ông đến nay vẫn chưa biết đến nhiều, ông vẫn là một nhà tư tưởng có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ, tư duy hệ thống của ông vẫn vô cùng hữu ích đối với chúng ta khi chúng ta đang vượt qua những khủng hoảng phức tạp của hôm nay và những gì sẽ diễn ra trong tương lai. Ông đã nói: “Phần đông trong chúng ta chịu sự chi phối bởi những nhận thức luận (epistemologies) mà chúng ta vốn biết chúng là sai”. Merly Driver giúp giới thiệu về Bateson và khảo sát cuốn phim An Ecology of Mind: A Daughter's Portrait of Gregory Bateson (Một ngành sinh thái học về tâm trí: Chân dung Gregory Bateson qua trình bày của cô con gái), qua đó đã phác hoạ sinh động những nội dung then chốt trong phương pháp tư duy về thế giới của nhân vật nổi tiếng này.
MẢNH ĐẤT ƯƠM MẦM CHO “SINH THÁI HỌC TÂM TRÍ”
Trong các thế kỷ 18 và 19, đã có sự gia tăng những
cảm nhận lạc quan trong các xã hội Tây Âu. Đó chính là niềm lạc quan về sự ra đời
của khoa học. Không chỉ cải thiện chất lượng của cuộc sống, con người còn bắt đầu
tin rằng khoa học sẽ giúp con người có thể hoàn toàn kiểm soát được cả thế giới.
Dĩ nhiên rằng điều này chưa hề xảy ra bao giờ. Thay vì kiểm soát được hành tinh
này, chúng ta lại gây ra ổ nhiễm và huỷ hoại nó. Tiền nhân của chúng ta chắc chắn
sẽ rất thất vọng. Làm thế nào mà chúng ta đã để cho việc này xảy ra? Câu trả lời
khả dĩ có thể tìm thấy từ buổi khởi nguyên của Ki Tô giáo. Trong Sách Sáng Thế (Genesis
1:27-28), chúng ta được bảo rằng: Đức
Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài … Đức Chúa Trời ban phước cho
loài người và phán: ‘Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy
làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời và mọi
loài bò sát trên mặt đất’.
Dù được diễn giải bằng bất kỳ cách nào, thông
điệp này đã mang đến cho các nhà khoa học Phương Tây một cảm nhận đoan chắc về
tính chính đáng; không chỉ như là ưu thế bên trong cách thức chúng ta vươn xa,
mà còn là định mệnh – được Thượng Đế đòi hỏi – của chúng ta. Khi Darwin và
Wallace phát triển học thuyết về sự chọn lọc tự nhiên trong thập niên 1850, các
tác giả này đã bị nhiều người xem là đã làm hao mòn quyền năng của đức tin Ki
Tô giáo. Trớ trêu thay, quan điểm theo kiểu tiến hoá về “khả năng tồn tại của
những loài được thích nghi tốt nhất” chỉ phục vụ để minh hoạ thêm cho tính “ưu
việt” của loài người trên các loài vật sống khác (đặc biệt khi ngẫu nhiên bạn
là người da trắng và là nam giới). Điều mà Darwin và Wallace đã biết đến bao lâu
nay – nhưng đã thất bại trong việc công khai nó – đó là: tiến hoá là một tiến
trình được chia sẻ (shared process). Như vị tù trưởng nổi tiếng của người Bản địa
Châu Mỹ (Lưu ý: Bateson đã không dùng từ “Indian” – Người Da Đỏ - ND) ở Seatle
đã nói: “Con người không dệt nên tấm lưới sự sống; mà chỉ là một phần ở trong tấm
lưới đó. Bất kể họ làm gì trên tấm lưới đó, họ cũng làm với chính mình”. Ông ấy
chắc chắn đã đúng và với tất cả những công nghệ mà chúng ta có, chúng ta càng
trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết.
“Nếu bạn đặt Thượng Đế ra bên ngoài và để ông
ấy (Nguyên văn: “him” không viết hoa; nếu viết là “Him” thì phải dịch là “Ngài/Người”
- ND) đối diện với những tạo vật của ông ấy, và nếu như bạn có ý tưởng rằng bạn
đã được tạo ra theo hình hài của ông ấy, thì theo lẽ tự nhiên và hợp lý bạn sẽ
cũng thấy chính mình như đang ở bên ngoài (outside) và khác với những sự vật khác
xung quanh bạn. Và khi bạn nhận lầm tất cả tâm trí vào chính bạn, bạn sẽ nhận
ra thế giới xung quanh bạn là thứ vô tri (mindless) và vì thế không có quyền được
xem xét về mặt luân lý hoặc đạo đức nữa. Môi trường xung quanh có vẻ như là của
bạn và bạn có quyền khai thác nó… Nếu đây là cách ước đoán mối liên hệ giữa bạn
với thiên nhiên và bạn có một thứ công nghệ tiên tiến, thì khả năng để bạn sống
sót sẽ giống như một hòn tuyết lăn trong ngục tối mà thôi. Bạn sẽ chết, hoặc bởi
ngộ độc những thứ phế phẩm mà chính bạn ghét bỏ, hoặc, đơn giản hơn, là do gia tăng
dân số quá mức và tình trạng chăn thả quá mức”
THĂM
GIA TỘC BATESON
Gregory Bateson là một nhà nhân học người
Anh, người mà phần lớn công việc là khám phá những mối liên hệ giữa thiên nhiên
và nền văn hoá. Cha ông, William Bateson, một nhà di truyền học xuất sắc, là
người đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ “di truyền học” (genetics) và là người truyền
bá chính cho công trình mang tính tiên phong của Gregor Mendel về “các giống
lai và di truyền” (hybrids and heredity). Gregory, người con út trong số ba người
con trai, được đặt tên để vinh danh Mendel. Rõ ràng là ông đã sớm được trông đợi
sẽ là người sẽ tiếp bước sự nghiệp của cha.
Cuộc sống của Gregory chịu tác động sâu sắc bởi
cái chết của hai người anh trai, John (1898-1918) và Martin (1900-1922). John bị
chết trong Đệ nhất Thế chiến, còn Martin tự sát bằng súng dưới chân bức tượng Anteros
ở giao lộ Piccadilly 4 năm sau đó. Martin có cảm hứng trở thành thi sĩ hơn là một
khoa học gia và những tranh luận với cha được xem là đã góp phần (song song với
những thất vọng trong chuyện tình yêu và cái chết của người anh John) dẫn đến kết
cục tự sát của ông. Mặc dù cha mẹ của Gregory vẫn trân trọng và gắn bó với những
giá trị lớn lao của nghệ thuật, nhưng William, người cha, vẫn xem đó “chắc chắn
không nằm trong tầm với của những người như chúng ta”. Theo sau cái chết của
hai người anh trai, Gregory trở thành người duy nhất còn lại để tiếp tục sự
nghiệp của gia đình Bateson. Gánh nặng của những kỳ vọng đã thình lình đổ xuống
trên đôi vai của ông. Mặc dù được đào tạo về ngành sinh học, nhưng sau cùng ông
đã bỏ nó lại phía sau sự thiện cảm đối với một chuyên ngành mới mẻ hơn – đó là nhân
học. Đây là một sự lựa chọn can đảm. Nhưng trong khi nhân học không phải là một
ngành khoa học chính xác, nó còn là ngành không nằm trong sự quan tâm của cha
ông, và cũng “có vấn đề” không kém như làm thơ.
Sau những lần làm việc thực địa với những sắc
dân bản địa ở New Guinea và Bali, những gì Bateson làm sau đó có liên quan đến đủ
thứ, từ điều khiển học (cybernetics) và bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia),
cho đến cách giao tiếp với loài cá heo. Năm 1970, ông được yêu cầu thực hiện một
bài giảng trong buổi Lễ Tưởng niệm Học giả Korzybski lần thứ 19 tại New York.
(Alfred Korzybski; 1879-1950: Học giả Hoa Kỳ gốc Ba Lan, cha đẻ của “ngữ nghĩa
học” – semantics – Chú thích của ND). Bài giảng được ông đặt tựa đề là Form, Substance, and Difference (Hình
thái, Chất và Sự Khác Biệt). Chính ngay tại thời điểm đó ông đã hoàn toàn nhận
ra một sự hợp nhất các công trình mà ông đã thực hiện trong đời mình nhằm cổ động
cho một “ngành khoa học về Tâm trí” (a “science of Mind”). Theo ý kiến của
Bateson, loài người – cũng như những hệ thống tư duy và giao tiếp của chúng ta –
đang cùng chịu sự chi phối của hững luật lệ phổ quát tương tự như mọi vật có biểu
hiện sự sống khác. Từ quan điểm này, điều cấp thiết là phải hiểu được sự sống
đã thực sự vận hành như thế nào khi chúng ta phải tìm ra một lộ trình ít bệnh
hoạn và ít gây huỷ hoại hơn cho giống loài của chúng ta. Cơ hội để sống sót của
chúng ta sẽ là rất lớn, nếu chúng ta thừa nhận, như điều Gregory Bateson đã
nói, rằng tất cả mọi sự vật đều liên kết với nhau.
“LOÀI
NGƯỜI CẦN THƠ CŨNG NHIỀU NHƯ CẦN KHOA HỌC VẬY”
Theo Bateson, học thuyết tiến hoá của Darwin
chứa đựng một sai lầm quan trọng. Thay vì đề ra một đơn vị sống sót như là một “cá
thể được nhân giống” (breeding individual), Bateson định nghĩa lại sự tiến hoá
như là một tiến trình tương tác và giao tiếp (a process of interaction and
communication). Một tiến trình tác động thông qua sự khác biệt và trên sự khác
biệt. Nhưng, chính xác theo ông nói, thì thế nào là “sự khác biệt”? Đâu là sự
khác biệt giữa cái cây và chú chim bồ câu đang đậu trên những tán lá? Ông hẳn sẽ
đáp, sự khác biệt không nằm ở cái cây, cũng không ở con chim, cũng không nằm ở
khoảng giữa cây và chim (con chim không
trở nên ít giống cái cây hơn khi nó bay khỏi cái cây). Sự khác biệt là một
thứ trừu tượng; nó chỉ đơn giản là một “ý tưởng”. Những sự khác biệt theo kiểu
như thế này mang đến những chất liệu thô mà chúng ta có thể lấy đó để kiến tạo
(construct), như Korzybski đã nêu, một “tấm bản đồ” được lập từ “một địa hình”
(a ‘map’ from a ‘territory’); thế gian được nhìn qua đôi mắt của loài người.
Chính xác hơn đó là “một thế giới được xây dựng từ sự khác biệt giữa những khác
biệt” (a world built from differences between differences). Là loài người,
chúng ta có thể không mất sức bao nhiêu để di chuyển giữa những tầng mức tách
biệt ấy – nhưng chúng ta không phải loài duy nhất có thể làm như thế.
Trong vương quốc các loài động vật, Bateson
lưu ý rằng “một vết cắn khi vui đùa thể hiện ra bằng một vết cắn, nhưng nó
không thể hiện về điều được thể hiện ra bằng vết cắn”. Ông xem đây là bằng chứng
của giao tiếp mêta (meta-communication), liên quan đến nhiều tầng mức trừu tượng
tách biệt nhau (separate levels of abstraction). Một điều gì đó càng trở nên gần
hơn với cái không phải là nó, thì khoảng trống giữa thông điệp này với thông điệp
kia sẽ càng xa ra và người ta càng gần hơn với cách hiểu về sự giao tiếp như là
“thông điệp về những thông điệp”, “mức độ trong các mức độ” (Nguyên văn: “The
closer something is to that which it is not, the further the gap closes between
one message and another, and the closer one comes to understanding
communication as “messages about messages”, or “levels within levels”). Từ quan
điểm này, ý niệm “chơi” (play) không đơn giản là để kiểm chứng sự tồn tại của
những thành phần tách biệt nhau mà nó còn góp phần tạo nên một sự xoá nhoà giữa
chúng. Và sự mù mờ theo sau đó tạo nguồn cho sự hài hước, nghệ thuật và âm nhạc.
Theo cách nhìn của Bateson, loài người cần thơ cũng nhiều như cần khoa học. Như
nhà văn viết tiểu thuyết, E.M. Forster có lần đã nói, “Hãy kết hợp văn xuôi với
nhiệt huyết, cả hai đều sẽ được tán thưởng”.
Việc nghiên cứu về điều khiển học về cơ bản
có lien quan đến bản chất có tính đan xen qua lại giữa tất cả mọi hiện tượng và
tầm quan trọng ẩn trong những sự liên kết ấy. Ví dụ khi Bateson nói về những “dòng
mạch điều khiển” (cybernetic circuit) trong tình huống một người mù đi với chiếc
gậy. Chiếc gậy, trong bối cảnh này, tác động như một lộ trình qua đó sẽ truyền
đi “những chuyển thể của sự khác biệt” (… acts as a pathway along which
"transforms of difference" are transmitted). Nếu bạn muốn giải thích
một cách đầy đủ sự chuyển động của người mù ấy, bạn bắt buộc phải xem xét đến một
dòng mạch nối giữa con đường, chiếc gây và người ấy. Bên trong một hệ thống như
thế này, luôn luôn có một dự trữ thực sự về những khác biệt tiềm tàng mà chúng
ta vẫn không sử dụng. Những khác biệt này được chọn lọc (với một số lượng rất
nhỏ) thành ra điều mà chúng ta gọi là “thông tin”, hoặc điều mà Bateson ngụ ý
là “một khác biệt từ đó tạo nên một sự khác biệt” (a difference which makes a
difference).
Theo Định luật hoặc Nguyên lý Thứ hai của Nhiệt
động học (Second Law of Thermodynamics), còn gọi là “luật en-trô-pi” (law of
entropie), tất cả các khuôn mẫu và trật tự trong thế gian sau cùng đều sẽ bị
tan biến mất (eaten up). Chẳng hạn như khi tôi (tác giả) đang viết những từ này
thì tách cà phê bên cạnh tôi sau cùng cũng bị nguội đi (mất nhiệt). Một tiến
trình tương tự cũng được thấy xảy ra liên quan đến những ý tưởng, thói quen của
chúng ta, và rõ ràng là cho cả chính đời sống của chúng ta. Con người cũng như
những tách cà phê với những nguồn phát nhiệt bên trong có thể kéo dài trong một
khoảng thời gian nhất định trước khi hoàn toàn ngừng hoạt động (Các DNA, dĩ
nhiên, sẽ “đào nhiệm” trước khi chúng ta đến thời điểm đó). Chúng ta phải cố gắng
rất nhiều để giữ cho sự rối loạn không được đến gần. Qua cách như thế, chúng ta
mới có thể tạo lập và duy trì một vẻ đẹp (beauty); một “mô hình để kết nối” (a
pattern which connects). Chịu ảnh hưởng bởi nhà điều khiển học Norbert Weiner,
Bateson xem khái niệm “thông tin” như là phần trung tâm của nỗ lực này.
“TOÀN
BỘ CÁCH NGHĨ VÀ CÁCH NHÌN CỦA CHÚNG TA CẦN PHẢI ĐƯỢC THAY ĐỔI TỪ TRONG RA
NGOÀI”
Thông qua nghề nghiệp của mình, Bateson đã cố
gắng hiểu về thế giới này dựa trên mối quan hệ giữa các thành phần của nó. Theo
ý kiến của ông, mối liên hệ giữa những ngón tay quan trọng hơn chính những ngón
tay (ngón tay cái cũng chẳng là gì nếu không có ngón tay trỏ). Có lần ông đã
nói: “Điều mà tôi hiểu là có tính thiêng liêng là điều gì đó có trong bản chất
của những mô hình và cũng là điều khiến tôi giận dữ nếu những mô hình đó bị xâm
phạm”. Rõ ràng là đối với Bateson, những sai lầm của chúng ta sẽ quay trở lại
ám ảnh chính chúng ta. Khi xem xét sự tồn tại của con người như thành phần của một
hệ sinh thái tinh vi và rộng lớn hơn xung quanh, ông hy vọng rằng chúng ta có
thể bắt đầu khắc phục những tổn thương mà chúng ta đã gây ra cho trái đất này.
Sự tồn tại của loài người rõ ràng đang bị đe doạ và tuy thế chúng ta lại đang
phản ứng rất chậm chạp. Sẽ hữu ích, nếu chúng ta nhận ra, như cách Bateson đã
thấy, rằng sự sống sót không phải chỉ là “được bao bọc trong một lớp da”. Ông
tin rằng tâm trí của một con người không chỉ có tính nội tại (immanent) bên
trong cơ thể, mà còn lan rộng thành ra một Tâm Trí rộng lớn hơn (Nguyên văn: a
larger Mind – viết hoa), với tâm trí của riêng chúng ta cũng thuộc về nó nhưng như
một thành phần đơn nhất (single component). Và ông đã không e ngại việc ngụ ý
chỉ Tâm Trí rộng lớn này như là Thượng Đế (God).
Có một vài cách để loài người gây ra sự suy
vong cho chính mình. Trước tiên có thể kể đến những thứ như chủ nghĩa dân tộc,
chiến tranh tôn giáo, phát triển vũ khí, đi song hành cùng với sự huỷ hoại và gây
ô nhiễm cho thế giới tự nhiên. Nhưng cũng còn một sự kết nối quan trọng nữa. Nhạc
sĩ kiêm nhà văn Stephen Nachmanovitch – một người bạn và trước đó là học trò của
Bateson – đã tóm tắt điều đó một cách tinh tế. Ông nói: “Những triệu chứng ở từng
cá nhân lồng vào nhau để hình thành một hệ thống rất lớn vận hành ngoài kiểm
soát, mà đó là sự biểu diễn ra của những giả định của chúng ta, của những thói
lệ nằm ẩn trong suy nghĩ của chúng ta, tất cả ăn sâu vào trong cuộc sống thường
ngày của chúng ta thành ra điều mà chúng ta gọi là ‘lẽ thường tình’ (common
sense). Toàn bộ cách nghĩ và cách nhìn của chúng ta cần phải được thay đổi từ bên
trong ra ngoài”. Điều mà Bateson đã kêu gọi cho một cuộc cách mạng về tri thức,
tinh thần và tình cảm, để có thể thấy được những mối liên hệ ấy và khám phá lại
phần đóng góp của chúng ta trong mạng lưới sự sống ấy. Trong 33 năm kể từ sau
cái chết ở tuổi 76 của ông, dân số thế giới đã gia tăng từ khoảng 4 tỉ lên đến
7 tỉ người. Và ngày nay, thong điệp của Bateson ngày càng trở nên thích hợp hơn
bao giờ hết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét